NGƯỜI PHỤ NỮ ĐẸP NHẤT CỦA TÔI!

Tôi xuống Hà Nội lần đầu tiên vào năm một ngàn chín trăm tám mươi tư, khi ấy tôi mới tròn bảy tuổi. Người đưa tôi đi cùng chính là bá tôi – bà Hoàng Thị Yến – con gái của một chánh tổng thời Pháp thuộc. Bá Yến lấy bác ruột tôi là Hoàng Văn Hổ – một thượng úy tăng thiết giáp thuộc thế hệ đầu tiên trong quân đội nhân dân Việt Nam. Năm một ngàn chín trăm sáu tám, trong chiến dịch Mậu Thân, bác tôi hy sinh, để lại cho bá tôi cả thảy ba người con.

Sau này, khi bố tôi rời quân ngũ, trở về bản Pác Thay, ông đã tìm cách đón bá tôi và ba đứa cháu về sống gần gia đình tôi. Chính vì thế tôi luôn coi bá là người mẹ của tôi, ba anh chị họ là ruột thịt của tôi. Chúng tôi sống với nhau cho đến tận bây giờ. Tôi là út nên ai cũng chiều chuộng, đặc biệt là bá Yến của tôi.

Từ khoảng bốn tuổi, tôi đã thường xuyên sống với bá Yến. Cứ chiều chiều là bá bắc tay lên miệng gọi tôi rất to: “A Sáng ơi!!! Về ăn cơm”. Ngày xưa, ở làng quê các cụ vẫn có cách gọi con cháu như thế: ngửa cổ, bắc tay thành cái loa rồi hét thật to. Bọn trẻ chúng tôi đang mải chơi ngoài ruộng, dưới bãi sông, hoặc trên núi đều nghe thấy. Và mỗi lần như thế bọn tôi lại ào ào chạy về nhà như lũ vịt.

Tôi hăm hở chạy về, bởi bá tôi nấu cơm rất ngon. Lúc nào cũng có cơm trắng dẻo thơm, một đĩa tép rim với khế chua, một bát đậu phụ om quả dái dê, hoặc một bát cơm rang với trứng, trộn một chút thịt băm, ăn kèm với canh rau cải thả từng lát gừng to như ngón tay. Tôi mê những món đó, và bá Yến bao giờ cũng dành cho tôi những bát cơm ngon nhất, rang những đĩa thịt băm trộn hành củ thơm điếc mũi.

Mỗi lần tôi ăn, bá Yến ngồi cạnh vừa bắt tôi húp canh vừa nhắc: “Ăn từ từ, nhai kĩ no lâu, ăn thêm rau, thêm canh để thật khỏe, sau này làm bộ đội lái xe tăng như bác Hổ!”. Tôi rất ngưỡng mộ bác Hổ của tôi dù không bao giờ được gặp nữa. Tất cả là do bá Yến của tôi, hằng đêm khi hai bá cháu lên giường ngủ, bá vẫn lấy những chiếc ảnh từng chụp bác Hổ tôi. Những tấm ảnh đen trắng màu ngà ngà, in hình bác Hổ tôi rất oai phong trong quân phục, lại thêm cái xe tăng bên cạnh. Những chiến xa hùng dũng, sắp thành hàng dài tít tắp, nòng pháo vút lên oai vệ và bác Hổ tôi đội cái mũ chuyên dụng của lính tăng, cười rất tươi chụp ảnh… Cứ mỗi lần như thế bá Yến lại kể về chồng mình: Bác mày to cao lắm, đẹp trai cực kì, lại khỏe nữa, nói tiếng Trung Quốc rất giỏi, được cử đi học tận Bắc Kinh nhiều năm, khi về bác mày đeo hàm thượng úy. Bác mày đánh giặc rất giỏi, đi vào miền Nam rồi hi sinh!!! Mày cần ăn nhiều rau, học giỏi, tập thể dục thật khỏe, để sau này giống như bác mày, đi bộ đội xe tăng… Cứ thế, bá tôi thủ thỉ, còn tôi thì ngắm nhìn những bức ảnh đó cho đến khi thiếp đi trong vòng tay ấm áp của bá.

Khi lớn lên tôi mới hiểu, đó là đời sống của một góa phụ – vợ liệt sĩ như vô vàn những người phụ nữ không may ở đất nước mình. Năm bác tôi hy sinh, bá Yến mới có ba sáu tuổi, và bá đã ở vậy nuôi ba đứa con, nuôi tôi… cho đến tận bây giờ.

Hồi ấy tôi còn quá bé để biết những chuyện như thế. Tôi vẫn hỏi bá Yến là bao giờ bác Hổ về? Bá tôi cười cười rồi nói: “Bao giờ A Sáng lớn thì bác về!”. Tôi vẫn không hiểu, đêm nào trước khi đi ngủ tôi vẫn đòi mang ảnh bác Hổ ra xem, tôi cứ vân vê mãi bức ảnh, tự tưởng tượng ra hình ảnh bác Hổ của mình, nếu bác ấy về tôi sẽ mượn khẩu súng pạc-khoọc để bắn mấy con quạ ở trên núi, mà nếu bác ấy lái xe tăng về tôi sẽ học lái xe tăng cùng bác… Tôi quả quyết như thế, bởi ở gần làng tôi có một trạm máy kéo của hợp tác xã, tôi thấy ngoài những chiếc máy cày đỏ chót của Liên Xô, còn có cả những chiếc máy ủi, chúng có bộ bánh xích y như những chiếc chiến xa trong ảnh của bác tôi. Hàng ngày chúng tôi thường mò vào trạm máy kéo để chơi, tôi rất khoái ngồi lên cái máy ủi đó, tôi la hét, tưởng tượng đó là chiến xa, tôi cũng mơ thấy bác Hổ của tôi hiện về, chỉ cho tôi cách lái xe tăng, rồi dạy tôi cách bắn trọng pháo, mỗi lần pháo nổ, lửa bay mù mịt, tiếng nổ chát chúa long trời… tôi lại hét lên: “Trúng rồi bác Hổ ơi!!!”. Tôi cứ chơi như thế đến khi chú Thạy – bảo vệ trạm máy kéo – xuất hiện mới chịu rời đi.

Nhà tôi và nhà bá Yến được bố tôi thiết kế kiểu nhà “liền kề” chỉ ngăn bằng một bức vách được trát bằng bùn trộn với rơm khô. Thời ấy, người Tày sống vẫn đầy hoang dã, nhà cửa bừa bộn, nông cụ vứt lung tung, nhưng riêng nhà bá Yến tôi luôn sạch sẽ, có bếp, có phòng khách riêng, đặc biệt là cái buồng ngủ của bá cháu tôi cực kì sạch sẽ.

Tôi nhớ mãi cái giường và chỉ có bá Yến mới dùng chăn bông làm đệm – một cái chăn bông màu xanh nhạt, trải gọn ghẽ, có gối màu nâu, có màn và rất thơm tho. Bá Yến tôi theo cách mạng từ năm mười bốn tuổi, sau đó được cử đi học lớp y tá để phục vụ thanh niên xung phong. Thế nên bác ấy biết giữ vệ sinh, biết ăn ở thật sạch sẽ để giữ sức khỏe. Tôi được thừa hưởng tính cách đó từ bá mình. Dù ở nơi nào, tạm bợ đến đâu cũng phải thật sạch sẽ.

Cứ chiều chiều, bá lại đuổi tôi như đuổi vịt để tắm cho tôi. Bọn trẻ miền cao chúng tôi có thói quen chơi với đất, cả ngày lăn lộn ngoài ruộng nương, chui vào hang, đào dế, bắt ếch, mò cá ở khe suối… Thế nên thằng nào thằng nấy bẩn từ đầu đến chân, tóc tai, mắt mũi, kể cả lỗ tai đầy đất bẩn. Riêng tôi cứ buổi chiều là bị bá Yến lùa bằng được, bá cắp tôi ở nách mặc cho giãy đạp la khóc ầm ĩ. Rồi bá thả tôi xuống một phiến đá xanh ở sau nhà, bên cạnh là một nồi nước nóng nấu với lá đào, cứ thế bá dội từ đầu đến chân. Tôi giãy đành đạch, cứ giằng ra, chỉ chực chạy trốn. Nhưng bá tôi rất rắn, túm tóc bắt gội đầu, bá kì cọ rất đau, chỗ nào bá cũng kì thật kĩ, đặc biệt là hai mang tai, hai cái nách… Cứ thế, bá kì đến khi nào người tôi đỏ như con tôm luộc. Mỗi lần như thế, tôi la oai oái như lợn bị chọc tiết. Hàng xóm vẫn thường xuyên nghe thấy, họ luôn nói: “Đến giờ bà Yến tắm cho thằng A Sáng rồi, nấu cơm thôi…”.

Lâu dần trở thành thói quen, đến tận bây giờ mỗi khi tắm, việc đầu tiên của tôi là kì mang tai, kì nách thật kĩ, và mỗi lần tắm tôi lại nhớ bá Yến, tôi không thể nào quên cảm giác được bá kì mang tai. Từ bé tôi to khỏe là nhờ bác Yến chăm bẵm. Tôi ít ốm, gần như chưa bao giờ phải đi bệnh viện hoặc tiêm một mũi kháng sinh nào. Người trong bản vẫn gọi tôi với biệt danh “Sáng Bếu” vì tôi rất béo, bụng cứ lùm lùm tảng mỡ, má hây hây hồng và rất sạch sẽ. Đơn giản tôi được ăn những gì ngon nhất thời đó, hàng ngày bá tắm cho tôi sạch như một cục xà phòng, đêm đêm tôi được ngủ trên cái đệm bằng chăn bông, ngắm ảnh bác Hổ với chiếc chiến xa oai vệ… Thế nên tôi to khỏe là chuyện đương nhiên.

Ngoài công việc ở bệnh viện huyện, bá Yến tôi làm đủ thứ để kiếm sống. Vì con cả bác tôi tên là Nguyên, người quê tôi thường gọi tên bố mẹ theo tên con cả, nên bá Yến còn được gọi là “Bá Nguyên”. Bá Nguyên tôi nấu rượu ngon nhất vùng, tôi là người được phân công trông lửa lò rượu, có lẽ tôi biết uống rượu từ những năm tháng đó. Bá thử rượu bằng cái nắp phích Tàu – một cái nắp bằng nhôm, méo mó, mòn vẹt. Thỉnh thoảng bá tôi lại đưa cái nắp ấy hứng rượu rồi đưa lên miệng nhấp một chút, bá chẹp chẹp miệng rồi rói: “Được rồi đấy, tắt lửa đi.” Dần dần tôi cũng nếm thử, cứ bao giờ thấy lưỡi tê tê là tắt lửa, không lấy thêm rượu nữa. Rượu cất xong, bá tôi cho vào góc nhà, đắp lên miệng chum một cái khăn mỏng, đặt cái bát đè lên làm nắp, trên bát bao giờ cũng đổ đầy nước lã. “Bát nước làm giảm nhiệt độ của rượu, cứ để thế ba ngày là bán được…” – bá Nguyên giải thích.

Ngoài nấu rượu, bá tôi còn cuốn thuốc lá, làm bánh mì, bánh bích quy, bánh bò, kẹo kéo… bán mỗi chợ phiên. Bá tôi dựng một cái lán nhỏ ngay trước cửa nhà, cái lán được lợp bằng giấy dầu độn với rơm, nó quen thuộc đến nỗi, người trong vùng đi chợ bao giờ cũng dừng lại để hỏi: “Bá Nguyên ơi, có rượu chưa, có bánh bò chưa, có bích quy chưa…?”.

Mấy lão nghiện rượu trong vùng lúc nào cũng thập thò cái chai để mua rượu. Tôi nhớ mãi lão Quẳn – người bản Phia Gà, cứ chiều chợ phiên là đến nhà tôi, đứng trực mua rượu. Lão thuộc tuýp người nghiện rượu nhưng rất lịch sự, lão chỉ mua một bát, trong tay bao giờ cũng kèm theo hai quả ớt chỉ thiên, lão tợp một ngụm rượu khà một cái, rồi ném quả ớt vào miệng nhai rồm rồm, lão xuýt xoa, nước mắt chảy giàn dụa, người lắc lư như lên đồng. Sau đó lão ngửa cổ tu hết bát rượu, phát ra tiếng kêu rõ mồn một: tức cựt – tức cựt – tức cựt… Cứ thế đến khi cạn bát rượu, rồi ném nốt quả ớt còn lại vào miệng ngậm thật chặt, hít hà như mút kẹo, sau đó ngồi thụp xuống như thể bị trúng gió. Lão cứ ngồi như thế khoảng ba mươi phút thì đứng dậy ra về, mặt lão đỏ như gà chọi, miệng sùi bọt mép, mắt ầng ậc nước… bước đi liêu xiêu – liêu xiêu khuất sau đỉnh đèo của chợ phiên và cực kì sung sướng với rượu của bá tôi.

Còn thuốc lá của bá tôi thì thượng hạng. Huyện Trùng Khánh quê tôi nổi tiếng với giống thuốc lá bản địa. Thuốc lá Trùng Khánh ngon đến độ nhà máy Vinataba vẫn đặt xưởng sơ chế ở đây từ những năm chín mươi. Thuốc lá gắn liền với đời sống của người bản tôi như một loại cây kinh tế mũi nhọn. Hàng năm cứ đến mùa thuốc lá thì cả vùng, cả huyện sực nức mùi thơm ngậy. Nhà nào cũng có lò sấy thuốc lá, người ta thu hoạch rồi tự sấy, như gia đình tôi mỗi năm cũng phải dựng ít nhất hai lò mới kịp sấy vì trồng quá nhiều.

Nhưng đó mới chỉ là thuốc lá sấy, còn thuốc lá thái ra rồi cuốn thành điếu để bán lại là một bí quyết. Bá tôi là người cực giỏi trong chuyện này, mặc dù bà không hút thuốc lá. Bá luôn lựa những cụm lá ở giữa cây, theo như bá tôi nói thì lá ở gốc cây vàng đẹp nhưng khét, lá ở ngọn dày nhiều nhựa nhưng chua, chỉ có khoảng ba lá ở giữa là ngon đủ tầm. Việc lựa những lá đó cũng phải biết nhìn, nếu họ cố tình độn với nhau thì phải tách ra, cứ thấy lá nào dài cỡ gang tay, gân của lá rõ mồn một thì mua về. Sau vài ngày ủ bằng khăn bông thấm nước thì mang ra thái. Những sợi thuốc sau khi được thái phải xao lên bằng cái chậu nhôm, chỉ chậu nhôm mới xao thuốc lá đượm mùi, nếu dùng chảo gang nhiệt độ quá lớn sợi thuốc sẽ gãy, khi cuốn lại hút không thơm. Chậu nhôm vừa đủ mỏng lại tiếp nhiệt nhanh, mình xao thật nhanh đến khi bốc hết hơi ẩm, sợi thuốc lá đủ dẻo thì bỏ ra, phơi trên giấy báo đúng một buổi thì cho vào túi ni-lông buộc thật chặt. Khoảng một tuần sau thì đem ra cuốn, bán cuối phiên chợ, người ta cứ mua ầm ầm.

Bí quyết đó là bá dạy cho tôi, vì tôi cứ lẽo đẽo bên cạnh mỗi khi bá làm việc. Tay bá vừa làm, vừa giải thích, nói đúng hơn là dạy tôi. Cho đến bây giờ, tôi uống rượu, hút thuốc lá cực sành. Tôi có khả năng thử rượu tự nấu một cách bản năng, tôi có thể biết rượu đó nấu từ loại ngũ cốc nào, thời gian cất và ủ bao lâu. Tôi cũng có thể thử thuốc lá mà biết bao nhiêu phần người ta dùng thuốc lá sợi và bao nhiêu phần trộn hương liệu, đặc biệt là thuốc lá giả thì không thể qua mắt tôi, chỉ cần ngửi tôi biết ngay là thuốc rởm, bất kì nhãn hiệu nào. Hai chất kính thích đó đã gắn liền với tôi từ những ngày xa xưa đó.

Tôi kể loanh quanh về bá tôi như vậy cũng chỉ vì cả tuổi thơ của tôi gắn liền với bá. Cứ đến hè là tôi được đi chơi, những chuyến đi dài, từ quê tôi tới tận Thái Nguyên, Hà Nội. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao bá tôi lại giỏi vun vén cuộc sống đến vậy. Bá một mình nuôi con, có tới hai đứa đang học đại học. Nhưng tôi chưa thấy bá tôi túng thiếu bao giờ, có những thời kì cả bản đói vì mất mùa, riêng bá tôi vẫn đủ gạo đựng trong một cái thùng bằng tôn của bộ đội, trong cái chum ở góc bếp lúc nào cũng có thịt rán ngâm mỡ. Thời đó chưa có tủ lạnh như bây giờ, bá tôi rán thịt từng miếng to rồi thả vào chum, đổ đầy mỡ lên đó, buộc thật chặt, đặt ở góc bếp. Mỗi bữa ăn, dùng cái thìa vén mỡ ra rồi móc một miếng thịt rán lên, thái nhỏ phi với hành thơm điếc mũi.

Chỉ tôi biết cái chum đó có thịt, cứ mỗi lần đi chơi về, tôi lại mở chum móc thịt ra, xé từng miếng cho vào bát trộn với cơm nguội, rắc một tí muối hạt ăn đẫy bụng thì thôi. Cứ mỗi lần như thế bá tôi lại trêu: “Hôm nay có con mèo nào ăn vụng thịt của bá rồi…”.

Bá chiều tôi – chiều hết cỡ! Tôi thích làm gì cũng được, miễn là ăn và tắm đúng quy định. Tôi hay lêu lổng, cậy béo khỏe, thỉnh thoảng lại choảng nhau với chúng bạn, mà đã choảng nhau thì cơ bản tôi thắng. Thời đó bọn con trai trong bản đánh nhau có quy định: thằng nào khóc trước thằng ấy thua. Tôi lì lợm, lại to khỏe nên cứ dùng võ vật, quật ngang người nó xuống đất, khóa cổ nó lại, rồi cứ nhè mặt nó mà thụi… Nó khóc nó sẽ thua. Mỗi lần như thế lại bị bố mẹ chúng nó đến tận nhà tôi “báo cáo”, bá tôi lại ra giải thích, phân bua: “Trẻ con né, đánh nhau một tí không sao né, để tối nay bá roi cho thằng A Sáng một trận…”. Nhưng chưa bao giờ bá tôi roi tôi cả, bá chỉ bảo, đừng có mà cậy khỏe đánh nhau, nhỡ đánh mù mắt người ta là đi tù đấy, đánh vào bụng được rồi…

Từ đó cứ nện nhau là tôi thụi vào bụng, tôi không dám nện vào mặt vì sợ mù mắt như bá tôi nói.

Bá chiều tôi đến nỗi, bố tôi lo lắng, ông ấy nói: “Thằng A Sáng không được lố! Nó cứ ở với bá thế này là hư lố, buổi tối phải bắt nó về nhà học bài xong mới được sang ngủ với bà bá.”. Nhưng tôi đã quen hơi bá, lại thích cái giường có đệm, được ăn những món bá làm nên tôi không chịu về, mỗi lần bố tôi bắt học bài tôi lại khóc toáng lên, gào thật to để bá nghe tiếng. Bá tôi lại sang, cõng tôi về.

Cứ hè đến, bá tôi lại chuẩn bị đi thăm các anh chị của tôi. Việc đầu tiên là bá chuẩn bị đồ ăn khô, nào là đỗ tương rang, lạc rang, ruốc thịt lợn… Tiếp đến là các loại quả: mận, lê, đào… Tất tần tật bá tôi bỏ vào một cái lồng gà được gia cố bằng vải bao bố xung quanh. Bá tôi nhét tất cả hoa quả vào đó, rồi chèn những túi nhỏ đựng đồ ăn khô như đã kể trên – nhét đến bao giờ cái lồng gà chật cứng thì thôi. Sau đó bá may một cái quai bằng vải thô móc vào hai đầu và khoác vào vai tôi như một cái túi.

Thời đó, đất Trùng Khánh của tôi là nơi “trung chuyển hàng lậu” từ bên kia Trung Quốc. Người Trùng Khánh nổi tiếng đi buôn với thuật ngữ cụm từ “hàng tâm lí”, tôi không biết “thuật ngữ” này có từ đâu, nhưng sau chiến tranh biên giới, năm một ngàn chín trăm bảy chín, đến tận những năm tám mươi tư thì biên giới vẫn rất căng thẳng, thỉnh thoảng hai bên vẫn nã pháo vào nhau. Nhưng dân đen sát biên giới như chúng tôi thì vẫn đi lại buôn bán bằng những đường tiểu ngạch bí mật. Hàng hóa thời đó cơ bản là chăn con công, bật lửa, cắt móng tay, khăn mặt, vải xa tanh… Tóm lại những mặt hàng nào Việt Nam không có thì Tàu có. Chúng tôi cứ trao đổi, bên Tàu cần cây sa nhân, vẩy con tê tê, tắc kè khô, cây củ mài, quặng măng-gan… Cứ thế vét hết tài nguyên đi bán để đổi lấy những món hàng thiết yếu trong cuộc sống mà người đời gọi là “hàng tâm lí”.

Vì thế mỗi lần đi Hà Nội, bá cháu tôi tranh thủ mua vài thứ hàng Tàu, thường là cắt móng tay, thứ hàng đó vừa nhỏ vừa gọn, được bá tôi ngụy trang bằng vỏ kẹo, cứ mỗi cái cắt móng tay, bá gói bằng một cái vỏ kẹo, rồi đựng trong cái túi ni-lông, cho tôi cầm như một túi kẹo, có thể dễ dàng bước qua các trạm kiểm soát thời đó. Khi về đến Hà Nội, chính “gói kẹo” đó sẽ lãi đến bốn năm lần. Bá cháu tôi mang ra chợ giời bán. Khi bán xong, kiểu gì cũng mua một cân thịt lợn tươi từ người mối lái, sau đó đem về ký túc xá trường Đại học Dược ở đường Lê Thánh Tông – nơi chị Dung – con gái duy nhất của bá – chị họ của tôi đang học ở đó…

Tôi nhớ mãi cảnh chen nhau mua vé ô tô. Chuyến từ huyện Trùng Khánh đi thị xã Cao Bằng còn nhàn nhã, vì ở huyện không nhiều người đi, bến xe thời bao cấp chỉ cần quen biết một chút là mua được vé. Mẹ tôi làm ở công ti thực phẩm nên có quen biết, thường đặt vé trước cho hai bá cháu tôi. Nhưng khi ra đến thị xã, chúng tôi phải ngủ lại bến xe, rồi sớm hôm sau từ tờ mờ sáng đã phải đứng xếp hàng mua vé đi Hà Nội. Từ khoảng bốn giờ sáng, bá tôi đã giục tôi dậy, hai bá cháu tay xách nách mang, riêng tôi phải đeo cái lồng gà đầy ự thức ăn, nó nặng kinh khủng! Nhưng không dám đặt xuống đất vì sợ mất, bá tôi đứng trước, tôi cầm vạt áo đứng sau, cứ thế đứng cho đến tận gần trưa thì mới mua được vé. Sau khi đã có vé, bá cháu tôi lại lẽo đẽo đi bộ đến tận nhà của một người quen. Đó là nhà của anh Móc – cháu đằng ngoại của bá. Căn nhà tập thể bé tí, chỉ có một chiếc giường, bá và tôi là khách nên được ưu ái nằm trên, còn anh Móc thì nằm ở ghế. Cả đêm tôi không ngủ được, phần vì lạ giường, phần vì ông cháu giai của bà ngáy to như sấm.

Hôm sau, cũng từ khoảng bốn giờ sáng, bá cháu tôi lại dậy, không ăn uống gì, đi thẳng ra bến xe, đến đúng cái xe mình, cái ghế mình ngồi trực chỗ. Thời đó đám lái xe rất nhiều thủ đoạn, dù mình có vé nhưng nếu không đến sớm sẽ bị họ “bán ghế”, khi ấy mình phải ngồi ở cuối xe, chỗ chỉ đa phần là hàng hóa, thật kinh khủng. Riêng bá tôi dày dặn kinh nghiệm đi xe khách nên chủ động tới sớm đúng số vé mà ngồi. Bọn phụ xe cứ lượn lờ nhưng bá tôi rất lì, nhất quyết chìa vé ra, không chịu bán lại, thậm chí bà sẵn sàng mắng chửi nếu bọn họ định bán ghế bá cháu tôi. “Đấy tôi có vé đấy, các anh cứ đuổi đi, tí nữa tôi lên báo công an, cháu tôi làm công an đấy, cứ thử xem… Tôi sẽ cho các anh biết thế nào là công bằng!” – Cứ thế bá tôi đôi co, hăm dọa, đôi lúc đứng lên quát ầm ĩ. Bọn phụ xe mãi rồi cũng thôi, bởi chúng biết bá tôi không phải dạng vừa, nhất quyết không “bán ghế”, bà cứ ôm khư khư lấy tôi, như một con gà mẹ sẵn sàng nhảy bổ vào bất cứ mối hăm dọa nào. Những lúc như thế, mắt bá tôi lại trắng dã, da mặt căng lên đầy hoang dại.

Bá tôi – một người vợ liệt sĩ – bà mẹ đơn thân tự mình nuôi những ba đứa con và tôi, thế nên bá tôi vừa đóng vai người phụ nữ, vừa đóng vai đàn ông. Bá tôi rất quyết đoán trong mọi việc, kể cả việc hệ trọng. Ở người phụ nữ này hội đủ mọi yếu tố: dịu dàng, chu đáo, tỉ mỉ, kĩ lưỡng, nhưng cũng hết sức quyết liệt, dữ dội trong những tình huống bất ngờ.

Tôi nhớ mãi, một lần có bà hàng xóm – thuộc tuýp người không biết sợ ai, bà sống một mình – cũng là vợ liệt sĩ thời chống Tàu nên bà không chịu nộp bất kì khoản phí xã hội nào, kể cả tiền điện. Nhà điện nhiều lần đến nhắc nhở nhưng bà vén váy chửa te tua, buộc họ phải cắt điện. Bị cắt điện nhiều ngày, bà tìm đến nhà tôi vì bố tôi là trưởng bản. Ban đầu bà còn nói chuyện tử tế, nhưng không hiểu sao bà bỗng nổi khùng chửi bố tôi ầm ĩ. Bố tôi là thầy giáo kiêm trưởng bản nên ông từ tốn giải thích, còn mẹ tôi thì sợ quá chạy tọt vào trong buồng. Bà hàng xóm mỗi lúc càng chửi dữ dội hơn, bà cho rằng bố tôi phải có trách nhiệm nối điện lại cho bà. Bố tôi vẫn kiên nhẫn giải thích: “Chị à, việc này tôi không làm được… Điện lực họ cắt thì sao tôi đi nói được. Tại chị không đóng tiền điện nên họ cắt thôi…” – cứ thế bố tôi ngồi ở cái bàn, cố gắng giải thích, còn bà hàng xóm đứng giữa nhà tôi chửi ầm ầm.

Bỗng nhiên bá tôi từ đâu xuất hiện, nhảy vào túm cổ bà hàng xóm rồi quát: “Cút ra khỏi nhà tao! Mày tưởng mày là vợ liệt sĩ mà muốn làm gì cũng được à! Tao đây này, cũng là vợ liệt sĩ đấy, có dám thiếu tiền điện đâu. Em tao làm trưởng bản, nó có giải quyết được đâu mà mày đứng giữa nhà tao mà chửi… Cút ngay!” – thế là bá tôi túm tóc bà hàng xóm lôi xềnh xệch ra khỏi cửa. Lúc đó tôi cũng thấy mắt bá tôi trắng dã, da mặt căng ra đầy hoang dại.

Có đận bá tôi dường như bị rối loạn tâm thần, kiểu như “điên tạm thời”. Bỗng một hôm, bá lấy lá thư của anh Quang – con trai út của bá đang ở Đức – bắt tôi đọc. Công việc này tôi vẫn làm mỗi khi có thư của anh Quang gửi về từ nước Đức xa xôi. Tôi nhớ mãi cái không gian, thời gian đọc thư kiểu ngày xưa, cứ mỗi lần nhận được thư thì cả nhà mừng như hội, nhưng không bao giờ bóc thư ra đọc luôn, mà phải đợi sau khi xong bữa tối, bố tôi pha trà xong còn mời cả mấy ông hàng xóm sang, gọi là nghe thư thằng Quang.

Cả nhà ngồi quây quần trà thuốc rôm rả, bá tôi bắt đầu bóc thư rồi đưa cho tôi đọc thật to – thật diễn cảm cho mọi người cùng nghe! Đó là hình ảnh cực đẹp, tôi không bao giờ quên, những lá thư mà anh tôi gửi về từ nước Đức. Chúng được viết trên một loại giấy màu xanh nhạt, có kẻ hình ca rô, và đặc biệt giấy rất thơm – tựa như ướp nước hoa vậy. Trước khi đọc, bao giờ tôi cũng hít một hơi thật dài, tận hưởng mùi thơm của xứ Tây trong tờ giấy. Rồi tôi bắt đầu đọc, tôi đọc rõ to, thỉnh thoảng lại dừng lại như kiểu không rõ chữ, nhưng thực ra tôi muốn trêu mọi người. Tôi cứ dừng đến bao giờ bá tôi giục: “Đọc tiếp a dè… Mọi người đợi à…”. Lúc đó tôi mới nhoẻn cười rồi đọc tiếp. Thư không dài, nội dung cũng chỉ báo cáo đời sống bên đó thế nào, ăn nghỉ ra sao, đang ở đâu, làm gì… và cuối cùng là chúc mọi người: mẹ, chú thím, anh chị và các em mạnh khỏe! Hết!

Nhưng lần đó, bá tôi lấy bức thư cũ của anh Quang bắt tôi đọc, mà đọc đi đọc lại nhiều lần. Rồi bá tôi khóc – khóc tu tu – kiểu khóc mà tôi chưa thấy bao giờ. Rồi bá tôi bắt đầu chửi, không chửi ai cụ thể, cứ thế đứng ở giữa sân, bá tôi nhảy chồm chồm chửi hết cây cỏ, hoa lá, trời đất… rồi sang chửi mẹ tôi, bố tôi… Chửi chán, bá tôi chạy sang chửi hàng xóm, mệt quá, bá tôi lên giường nằm cứ khóc ti tỉ, chửi rầm rầm như thế. Tôi sợ quá chạy về nhà mình, đến xẩm tối tôi không dám sang ngủ cùng bá nữa, cứ nín thở ăn cơm rồi định leo lên giường… thì bá tôi đột nhiên xuất hiện.

Lúc này mắt bá tôi trắng dại, da mặt co giật, nhăn nhúm rất kỳ dị… Bá tôi chỉ mặt bố tôi quát nạt, rồi lôi tôi sồng sộc về nhà mình. Tôi sợ quá khóc ré lên, nhưng bá tôi rất khỏe, cứ thế lôi tôi lên giường, lấy chăn quấn tôi lại, rồi chỉ mặt quát: “Mày ngủ ngay!”, lúc đó tôi sợ đến són đái ra quần, nhưng nhìn mặt bá, không dám khóc nữa, chui trong chăn, run cầm cập. Bá tôi ngồi ở thành giường, vẫn nói lảm nhảm, thỉnh thoảng lại quát lên một câu vô nghĩa.

Rất lâu sau, bá mới lên giường, vuốt vuốt lưng tôi rồi hát ru khe khẽ – một cách hát ru rờn rợn đượm nước mắt – những câu hát cũng vô nghĩa nhưng có giai điệu thật buồn. Hát một lúc, bá tôi lại ai ủi: “A Sáng nhỉ, ăn thật tốt, tập thể dục thật khỏe, học thật giỏi để sau này đi bộ đội lái xe tăng như bác Hổ… A Sáng nhỉ…”. Cứ thế bá tôi thủ thỉ rồi tôi ngủ thiếp đi…

Sau này, tôi mới biết đó là hội chứng trầm cảm tạm thời – bệnh thường thấy của những phụ nữ góa bụa như bá tôi. Những người phụ nữ là vợ liệt sĩ thời của bá tôi rất ít khi đi bước nữa, họ nén mình lại, hi sinh tất cả những gì thuộc về cá nhân mình, họ sống bằng cách quan tâm và chăm sóc con cái. Khi các anh chị tôi đi học đại học hết, bá tôi coi tôi như con, chăm sóc tôi, yêu thương tôi để vượt qua đời sống cô đơn của chính mình. Nhưng thỉnh thoảng bà vẫn nhớ những đứa con của mình, lại không có ai bên cạnh để giúp đỡ, chia sẻ, động viên trong cuộc sống… Nên nguồn năng lượng còn sót lại của một phụ nữ đã bùng lên, không thể kiểm soát nổi, nó tựa như ngọn núi lửa với dung nham sôi sục bên dưới, đến một lúc nào đó cần phải phun trào… Và bá tôi đã kiềm chế nó từ khi mới ba mươi sáu tuổi…

Thỉnh thoảng, bá tôi lại bị như thế, bá cứ chửi mắng, đôi khi đập phá đồ đạc, hết một buổi thì thôi, nhưng đến tối nếu không thấy tôi sang, bá lại phăm phăm đi tìm, lôi tôi về, quấn chăn thật chặt rồi lại thủ thỉ đến khi nào hai bá cháu ngủ thiếp đi thì thôi. Chứng bệnh này kéo dài khoảng hai năm, cho đến khi anh cả của tôi tốt nghiệp đại học, về nhà nhận công tác thì mới thôi.

Lại nói chuyện đi Hà Nội thăm chị Dung, hai bá cháu tôi ngủ luôn tại ký túc xá trường Đại học Dược. Thời đó, ký túc xá chật chội, đông người, nhưng rất thú vị trong mắt tôi. Chưa bao giờ tôi thấy giường tầng nên thích lắm, leo hết giường nọ sang giường kia. Các chị cùng phòng cũng rất vui vẻ vì bá cháu tôi là khách. Hà Nội mùa hè nóng như chảo rang, trong phòng chỉ có quạt con cóc, mỗi người một cái để ở cuối giường, tôi mê mẩn cái quạt đó, mỗi khi các chị đi học tôi lại bê hết quạt xuống xếp vòng tròn xung quanh, đồng loạt bật và nằm ở giữa mát vô cùng.

Buổi tối, tôi được chị Dung dẫn đi dạo phố. Thành phố về đêm thật kỳ diệu, đèn điện lung linh, tôi cứ nhớ mãi khi ngang qua một gia đình thấy người ta đang ngồi xem tivi. Một loại ti vi đen trắng nhỏ xinh được đặt trên cái tủ ly đặc trưng thời bao cấp. Tôi nán lại, cố ngó vào bằng được, tôi rất muốn vào xem… nhưng chị tôi kéo tay rồi nói: “Ở đây không tự tiện vào nhà người khác như trên mình đâu…”. Tôi cứ tiếc mãi, ở miền núi bạn có thể tự nhiên vào một nhà nó đó mà bạn không hề quen biết, mượn con dao, cái cuốc, xin nước uống… là chuyện hết sức bình thường. Thế nên tôi rất muốn bước vào ngôi nhà mặt phố có cái ti vi kia để xem nhờ, vì tôi chưa thấy cái tivi bao giờ. Tôi chỉ được xem chiếu bóng di động của những chú bộ đội mang đến, tôi rất muốn biết nó như thế nào.

Tôi đã khóc ầm lên, cố nán lại nhất quyết phải được xem. Tôi vốn vậy, con út, được chiều quen nên cái gì thích thì tôi đòi bằng được. Chị Dung càng dỗ, tôi càng khóc, tay cứ bám vào cửa nhà người ta, dứt khoát phải được xem. Thấy ầm ĩ, bác chủ nhà có mát tóc bạc lốm đốm, mặc chiếc áo may ô màu mỡ gà, cái quần soóc kẻ ca rô… ngó ra rồi hỏi: “Có việc gì thế cháu?”. Chị Dung tôi ấp úng, phần vì bực tôi, phần vì xấu hổ. “Dạ… em cháu cứ muốn xem cái tivi ạ, nó chưa thấy bao giờ…” – chị Dung tôi phân trần. “Thế thì vào xem, có gì đâu mà ngại, vào đây…” – bác chủ nhà rất thân thiện, khiến tôi mừng rơn. Tôi nhớ mãi cái buổi tối hôm đó, lần đầu tiên trong đời, với sự lì lợm kiểu rừng rú, tôi đã được ngồi trong nhà một người Hà Nội, trên cái xa-lông thời bao cấp có cái tay vịn cong vút và xem tivi. Bác chủ nhà còn rót cho một cốc nước, tôi chả để ý, cứ dán mắt vào màn hình đen trắng, hình ảnh mờ nhạt, chả biết có nội dung gì nhưng cực kì hấp dẫn.

Mấy hôm sau, tôi được đi thăm lăng Bác Hồ. Về Hà Nội là phải thăm lăng Bác Hồ, thời đó là như vậy. Tôi đã nghe các chú bộ đội kể về lăng Bác, các chú kể rằng Bác Hồ ngủ trong một cái hộp kính, trong vắt, mặt mũi Bác Hồ vẫn tươi nguyên, thậm chí tóc Bác Hồ vẫn mọc, thỉnh thoảng người ta phải cắt đi. Cái hộp kính đó trong đến nỗi không thể nhìn thấy, nhiều người đi qua định thò tay vào sờ Bác Hồ thì ngay tập tức chạm vào kính và bị điện giật nảy ra… Da mặt Bác Hồ dù được chăm sóc nhưng đã mọc rất nhiều nấm, có chỗ người ta phải dùng phấn để bôi lên… Những câu chuyện kiểu thế, nửa thật nửa bịa, cuốn hút tôi vô cùng.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về lăng Bác Hồ là mát – mát đến tê tái – mát hơn cả gió lùa từ hang núi quê tôi. Một kiểu mát xuyên da thịt, thăm thẳm đến nổi da gà, tôi không thể hình dung nổi một căn nhà lớn như vậy mà có thể mát sâu như thế. Đứng xếp hàng ở ngoài, trời nóng như đổ lửa, ai nấy toát mồ hôi, người sát người lại càng ngột ngạt khó chịu hơn. Bá tôi một tay dắt tôi, tay kia cứ cầm cái quạt giấy quạt liên tục. Tôi thiếu kiên nhẫn, thỉnh thoảng lại hỏi: “Sắp được vào chưa bá? Nóng quá!”. Cứ thế tôi làu bàu, bực bội, thiếu chút nữa lại giở bài khóc nhè quen thuộc. “Đồng bào trật tự, đi đúng hàng lối!” – thỉnh thoảng mấy chú cảnh vệ lại nhắc nhở.

Mãi rồi cũng tới cổng, vừa bước vào thì hơi mát ập xuống! Ôi thật dễ chịu, sướng kinh khủng, mát đến độ tôi chỉ muốn nằm dài ra sàn nhà, tận hưởng làn gió mát của Bác Hồ ban tặng. Sau này tôi mới biết đó là máy điều hòa, tôi không nhìn thấy cái máy đó ở đâu, nhưng chị Dung tôi khẳng định phải là máy điều hòa mới mát như thế, vì ở đó không thấy cái quạt nào.

Khi ngang qua chỗ Bác Hồ đang yên nghỉ, tôi thấy rõ ràng cái hộp kính, nó không trong như các chú bộ đội kể, hơn nữa chỉ được đứng nhìn từ khá xa, lại có lan can bảo vệ làm sao có thể thò tay vào sờ người Bác Hồ được. Rõ ràng nói phét! Tôi thầm nghĩ như vậy. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không nhớ lắm về hình ảnh Bác Hồ ngủ trong hộp kính. Tôi chỉ thấy lờ mờ, không rõ ràng, và phải nhìn từ khá xa, làm sao biết được da mặt Bác bị mọc nấm được. Lại phét tiếp – chắc chắn thế.

Nói thực tôi chỉ thích hơi mát trong đó, vì Hà Nội quá nóng – nóng đến độ ai cũng mọc rôm, ban đêm tôi thấy mấy chị trong ký túc cứ gãi sột soạt, chân tay ai nấy đều tấy đỏ vì rôm hay ghẻ gì đó. Tôi còn bé nên các chị hồn nhiên gãi trước mặt, có chị còn đưa lọ thuốc có mùi khen khét nhờ tôi bôi vào lưng. Tôi thấy ở đó tấy đỏ, nổi từng cụm mụn li ti đúng kiểu mọc rôm vì trời nóng. Tôi cũng vậy, ở trên núi mát mẻ quen rồi, bây giờ phải ngủ ở Hà Nội, lúc nào tôi cũng vật vã, khó ngủ, thỉnh thoảng tôi lại bò ra khỏi giường, mặc đúng cái quần đùi, nằm thẳng cẳng ở sàn nhà cho dễ chịu.

Hôm ấy, đến thăm Bác Hồ được tận hưởng cái không khí mát mẻ đó tôi vô cùng ấn tượng. Tôi cứ nấn ná mãi không muốn rời đi, chỉ vì ở trong đó mát quá. Khi bước ra ngoài, cái nóng ập xuống, đè bẹp mọi ý nghĩ, mồ hôi chảy ròng ròng, bá tôi lại phải quạt liên tục, tôi lại càu nhàu, đòi uống nước… “Mình mà xin được ở một góc trong lăng Bác Hồ thì sướng bá nhỉ, mát quá” – tôi cứ lẩm bẩm như vậy.

Bá cháu tôi ở Hà Nội khoảng một tuần thì ra về. Lại là chuyện đứng xếp hàng mua vé xe, chị Dung đứng xí chỗ từ khoảng năm giờ sáng, bá cháu tôi ngồi ở vỉa hè chờ đợi, đến khi nào chị Dung mệt, bá tôi lại đứng thay chỗ xếp hàng, còn tôi cứ ngồi trên vỉa hè như vậy, ngủ gà ngủ gật. Bỗng nhiên bá tôi lay dậy, kéo đi xềnh xệch rồi nhảy tót lên xe khách thì cũng tầm quá trưa. Chị Dung tôi mồ hôi nhễ nhại, mặt đỏ au, mái tóc tết hai bên ủ rũ vì nắng: “Mẹ về nhé, A Sáng về nhé… Ngoan nhé năm sau lại xuống…”. Tôi nhớ hình ảnh đó, chị Dung người mảnh mai, xinh xắn, luôn tết tóc hai bên và cũng như bá tôi, vô cùng chiều chuộng tôi.

Hà Nội những năm tháng đó, tôi chỉ nhớ như vậy: tivi đen trắng, hơi mát của lăng Bác Hồ, sự kinh khủng của những chuyến xe khách, sợ nhất là đứng xếp hàng mua vé và lời hăm dọa của cánh tài xế. Tôi thấy lái xe có quyền lực ghê gớm, ai nấy đều sợ họ như gặp phải quỷ. Họ xấc xược, quát nạt bất cứ ai, những tay buôn đường dài thì xun xoe nịnh nọt, còn tôi thì sợ chết khiếp. Nhưng thật may, tôi có bá tôi, rất mạnh mẽ, ôm khư khư tôi trong lòng, dứt khoát không thỏa hiệp, không sợ bất cứ tay tài xế hay phụ xe, dù có hăm dọa cỡ nào.

Bá tôi là vậy, luôn mềm mỏng, nhưng cực kì dứt khoát trong những tình huống cần thiết. Tôi luôn thấy an toàn khi ở cạnh bá mình. Đi xe khách thời bao cấp có lẽ ai cũng biết, nó kinh khủng, bão táp, mệt mỏi như thế nào. Mà phải đi đường dài, từ Cao Bằng về Hà Nội mất nguyên một ngày, xe chật như nêm, ghế chỉ có ba chỗ mà bao giờ họ cũng lèn vào cỡ năm người ngồi chung, tôi còn bé nên phải ngồi trong lòng bá. Chật, nóng, ngột ngạt… tôi lại kêu la, khóc lóc. “Nín đi A Sáng, chịu khó một tí, đi một lúc rồi khác hết mệt, xe xóc một lúc thì sẽ hết chật… Nín đi…” – cứ thế bá tôi vuốt lưng, vuốt má động viên, không bao giờ bà cáu gắt với tôi. Nhiều hàng khách đi cùng luôn tỏ vẻ khó chịu: “Khiếp cái thằng này! Được mẹ chiều thế…”. Tôi cứ vậy, i ỉ khóc cho đến khi ngủ thiếp đi, còn bá vẫn ôm tôi trong lòng, ròng rã một ngày bão táp như thế.

Sau này, thỉnh thoảng tôi vẫn đón bá xuống Hà Nội chơi bằng xe của mình, mỗi lần bước vào xe, bá tôi lại vuốt cái ghế rồi tủm tỉm cười: “A Sáng còn nhớ ngày xưa đi xe khách không?”. Lúc nào lên xe bá cũng cầm một chai nước mang đi từ nhà, mặc dù trên xe có nước nhưng bao giờ bá cũng thủ sẵn như vậy. “Mình phải chuẩn bị kĩ khi đi xa, phải có nước, không có nước là chết…” – bá luôn nói thế. Cũng có thể từ bá mà tôi luôn có thói quen chuẩn bị rất kĩ mỗi khi đi đâu, và nước là thứ lúc nào cũng ám ảnh tôi. Nhiều khi ra sân bay tôi vẫn cầm khư khư chai nước, dù biết rằng kiểu gì cũng phải bỏ lại, nhưng việc cầm chai nước nó khiến tôi yên tâm hơn thì phải.

Khi tôi quyết định mua cái nhà nhỏ ở Hà Đông, tôi đã vay mượn chủ yếu là mấy anh chị họ của tôi, vì lúc này các anh chị tôi đã trưởng thành, anh Nguyên – con cả của bá tôi đã làm đến chức Chủ tịch huyện Trùng Khánh, chị Dung làm Giám đốc Bệnh viện Y học Dân tộc Cao Bằng, anh Quang từ Đức trở về làm chủ một doanh nghiệp cơ khí rất lớn. Người ta nói rằng, phúc đức tại mẫu, câu này đúng hoàn toàn với bá của tôi. Anh chị em tôi đều trở thành người tử tế là nhờ hai người phụ nữ tuyệt vời, bá tôi và mẹ tôi. Cái phúc đó sẽ được hiểu theo nhiều nghĩa, nhiều trường phái, nhưng riêng với tôi thì chắc chắn một điều rằng, bá tôi, mẹ tôi chưa bao giờ làm điều gì xấu, họ luôn nhường nhịn, chịu thương, chịu khó, hi sinh tất cả vì con cái, gia đình… thế thì không có một cái lí nào mà không tạo được phúc, nói đúng hơn là hai người phụ nữ này đã tạo ra một trường năng lượng tử tế, an lành và chúng tôi được sống trọn vẹn trong đó từ khi sinh ra cho đến tận bây giờ. Tôi gọi đó là ơn huệ của cuộc đời!

Khi biết tôi quyết định mua nhà, bá tôi lúc này đã ngoài tám mươi tuổi, bà gọi tôi vào buồng, lôi từ dưới gối ra một cái khăn mùi xoa cũ kỹ, bà cẩn thận mở ra – trong đó là một xấp tiền. “Nè.. đây là tiền tiết kiệm của bá, A Sáng mua nhà bá cho, không nhiều đâu nhưng cũng đủ mua cái giường chẳng hạn…” – bá tôi âu yếm nói. Tôi vô cùng bối rối, quả thực khi ấy tôi còn nghèo, phải vay mượn – dù chỉ vay mượn anh em ruột thịt, nhưng tôi không bao giờ nghĩ mình lại lấy tiền của bá – người phụ nữ rất quan trọng với tôi. Bỗng nhiên tôi khóc, tôi thấy mình vô dụng, bất tài, chả làm nên trò trống gì. Từ bé đã được bá nuôi dưỡng, chiều chuộng, bây giờ lại “móc” nốt số tiền dành dụm của bá… tôi thật không xứng đáng!

Tôi từ chối, dứt khoát không nhận, nước mắt tôi giàn giụa. “Lại khóc nhè, lớn rồi không khóc nhè nữa…” – bá vừa cười vừa dúi bằng được gói tiền tiết kiệm đó vào tay tôi. Nhìn khuôn mặt bá lúc đó, tôi thấy rạng rỡ ánh sáng, những năm tháng thơ ấu nằm trong lòng bá lại hiện về, sự ấm áp, an toàn, yêu thương bỗng sống dậy trong tôi. Cảm giác này thật đến độ, tôi có thể sờ được, nếm được và ôm được… Cứ đứng trước mặt bá thì tôi lại thấy mình nhỏ bé, cần được chở che, cần được chiều chuộng và khóc nhè bất cứ lúc nào.

Mãi rồi tôi cũng phải nhận số tiền đó. Bá tôi có lương hưu khoảng vài triệu đồng một tháng, bây giờ bá đã già yếu nên không nấu rượu, cuốn thuốc lá, làm bánh như ngày xưa nên không có thu nhập nào khác. Tôi biết, số tiền này là bá dành dụm, cộng với các con cháu biếu vào mỗi dịp tết lễ… nhiều năm liền nên bá tôi cất được một chút như vậy. Đây có thể coi là “tài khoản” duy nhất mà bá tôi có. “Bá già rồi, có tiêu gì nữa đâu, cầm lấy đi…” – bá tôi cứ nói như vậy. Thế đấy, tôi cực may mắn vì được sống bên cạnh người phụ nữ này. Tôi không biết tại sao bá lại chiều tôi đến thế, từ bé đến lớn, thậm chí đến già, trong mắt bá, tôi luôn phải được chiều chuộng, vì tôi là út, dù tôi chả ngoan tí nào. Hôm nay, bá lại cho tiền tôi – số tiền tiết kiệm cả đời – chỉ vì tôi mua cái nhà nhỏ. Cả thảy là hai mươi bảy triệu đồng, từ tiền chẵn đến tiền lẻ, đủ các loại mệnh giá, tôi còn ngửi thấy mùi ẩm mốc vì bá tôi đã cất giữ nhiều năm.

Mấy đứa cháu của tôi luôn miệng nói: “Chú A Sáng sướng thế! Được bà chiều cực kì!”. Đúng vậy, tôi cực sung sướng, cả tuổi thơ của tôi sống trong sự chiều chuộng yêu thương đến thái quá. Tôi nghịch ngợm, vị kỉ cũng chỉ vì được chiều, nhưng tuổi thơ ấy cũng hình thành trong tôi lòng trắc ẩn và tình yêu thương. Tôi tin chắc một điều rằng, nếu được sống trong yêu thương mình sẽ biết yêu thương. Bởi tôi là người được trải nghiệm và bá tôi là người mang lại điều này.

Nhiều năm sau, khi tôi làm báo thị trường, tôi bắt đầu có tiền. Hàng năm, tôi đều mời bá tôi, mẹ tôi đi du lịch. Mỗi lần thế, bá tôi lại cười rạng rỡ, bà nói rằng, ở làng này chưa ai được đi nhiều như bá, bây giờ lại được thằng A Sáng mời đi, thế mới sướng! Nhiều đồng nghiệp cứ hỏi: “Trong hai bà, ai là mẹ anh?”. Tôi trả lời: “Cả hai!”. Càng về già, bá tôi và mẹ tôi càng đẹp – một kiểu đẹp phúc hậu. Tôi khẳng định điều này vì tôi là con của họ, lại là họa sĩ, tôi biết thế nào là đẹp. Tôi thấy rõ vẻ đẹp hiền từ, an nhiên, tự tại cứ rõ dần trên khuôn mặt của họ. Tôi cũng tin người ta có thể đẹp lên mỗi ngày bằng việc sống thật chân thành. Bá tôi là người như vậy, luôn chân thành, sống trọn vẹn từng giây từng phút với thực tại, bỏ lại tất cả những khổ đau, mệt mỏi, buồn phiền của đời sống – một đời sống góa phụ từ thời trẻ – đời sống của người lấy lao động và tình yêu làm kim chỉ nam. Những người như thế càng về già càng đẹp, vẻ đẹp mang ánh hào quang của con người chân chính.

Cũng như mẹ tôi, bá tôi luôn tự hào về tôi, lúc nào bá cũng nói: “Cái thằng khóc nhè này cũng biết làm việc vớ… Nó còn mời bà đi máy bay… Nuôi nó từ bé bây giờ được hưởng thụ rồi…”. Còn tôi, sẽ không bao giờ trả hết nghĩa cho bá, với tôi chỉ có cách duy nhất là trở thành người tử tế, biết yêu thương, chăm chỉ lao động là một phần tôi đã xứng đáng với những gì mà bá đã dành cho tôi.

Hiện tại, bá tôi đã chín mươi lăm tuổi. Bá không nhớ nhiều, nhưng luôn nhận ra tôi mỗi khi tôi về. “A Sáng á, mới về á, vợ con có về không?” – lúc nào cũng hỏi như vậy. Người bá tôi nhỏ đi, ngồi lọt thỏm trên cái ghế, còn tôi luôn thích ngồi bên cạnh, trò chuyện với bá. Tôi thích cảm giác này, cầm tay bá tôi, bàn tay đã gầy guộc và bé như tay trẻ con, nhưng khuôn mặt bá tôi vẫn vậy, lúc nào cũng sáng bừng, ấm áp. “Đi Hà Nội chơi là bá?” – tôi vẫn trêu như thế. “Thôi a… già lắm rồi, không đi nữa đâu, A Sáng về thế được rồi…” – bá tôi lại cười, nụ cười rạng rỡ, tươi tắn. Tôi muốn ngồi như thế thật lâu với bá mình. Tận hưởng cảm giác an toàn, ấm áp như những ngày xưa thơ ấu. Một thời tôi vô cùng sung sướng vì được sống cạnh bá mình. Và tôi tin, tất cả những gì tôi có được cho đến bây giờ, phần rất lớn là nhờ phúc của bá tôi. Người phụ nữ đẹp nhất của tôi!

A SÁNG (2020)